Chưa có nội dung

Chưa có nội dung

Chưa có nội dung

Chưa có nội dung

Chưa có nội dung

Chưa có nội dung

Chưa có nội dung

Chưa có nội dung

Chưa có nội dung

Chưa có nội dung

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Rồi một ngày thôi làm kẻ thứ ba


Rồi cũng đến một ngày anh thôi làm người thứ ba,
Ngăn giữa cuộc tình em tươi đẹp
Nắng thôi hồng em bên bờ gió cát,
Về chốn tình xa mộng ước một đời…

Rồi cũng đến một ngày anh làm bộ thở than,
Một vài thương nhớ để thấy mình còn dại.
Bốn lần lá rụng xác xơ cây chiều tím,
Anh lại miệt mài trên con phố mênh mông.

Rồi cũng đến một ngày em đi về chốn kia,
Non nghìn cây số, ở nơi em là biển.
Anh không rõ mình còn gì để tiễn,
Một nhánh lan già hay lối bạch đàn xa.

Và đến cả một ngày anh quên nói những câu,
Quên hát những bài, quên nghe những khúc.
Yêu thương mấy cũng đến ngày hoang chật,
Bóng dáng nào đè nặng mãi trong nhau?

Ngày hoang phế anh lại về chốn cũ,
Hoa vẫn vàng từ mấy độ anh đi.
Ngày mai nắng lại quay về thành phố
Em có chờ được ngày ấy hay không?
Lãng

(Truyện ngắn) Nơi có những ngôi nhà...

Em bước đến bên cạnh tôi với mái tóc ướt đẫm. Không phải em khóc mà thành mưa. Tôi nghĩ vậy. Dù sao thì tôi cũng hơi say.


Mùa xuân năm ấy, tôi thấy em mặc một chiếc váy màu vàng đi trong bữa tiệc mùa xuân rực rỡ sắc vàng. Tôi khen em đẹp các kiểu. Em cau đôi mày thanh tú đáp: "Em không thích thế!"
Thế rồi bỗng dưng chiếc áo của em trở thành màu hồng, và những chiếc mành cũng thế. "Phải chi là màu đỏ, hoặc tím. Em không thích màu hồng! Nó yếu đuối."
Tôi cười.
Vì là tiệc tùng nên xe rất đông. Mọi người cho rằng tôi nên thu dọn một góc vườn để tiện việc giữ xe. Tôi không đáp. Họ cười rằng tôi có vẻ hơi xông xáo, hoặc là kích động gì đấy. Dù sao cùng là một ngày vui của gia đình...
Nhưng quan trọng nhất là có em ở đó.
Em mang cho tôi một mẩu bánh nhỏ. Mùa xuân vẫn còn kịp nở một vài bông hoa cuối cùng. Tôi bảo rằng tấm váy của em sẽ bị lấm nếu cứ ở ngoài này. Em không quan tâm lắm nên tôi hôn em. Môi em mềm và ngọt lịm như những lời thốt ra từ đôi môi ấy.
Em im lặng. Hỏi tôi mùa xuân năm sau có gì. Tôi có ý định dắt em đến ngôi nhà nhỏ mà mình từng mơ thấy. Nhưng em không còn ở đó nữa. Trong nỗi nhớ của tôi, em ôm một đứa trẻ trông có vẻ giống em đứng ở cạnh mảnh vườn nho nhỏ của tôi. Tôi có hôn em và đứa bé tí chút. Nhưng rồi bó Lavender của tôi không kịp mang ra tặng.
Không sao cả! Em nói. Rồi chỉ vào ngực của tôi. Nơi đó có em, và bó Lavender của tôi nữa
Lãng

P/s1: Mạng yếu không vào được note
Tặng đám cưới Dương và ngày ra đời của tiểu Bân

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

Life of Pi hay là câu chuyện về niềm tin

Life of Pi hẳn nhiên là một bộ phim không còn gì lạ lẫm đối với đa số những người yêu điện ảnh. Nhưng trong một ngày đặc biệt, một người đặc biệt khác nhẹ nhàng nói với tôi về những điều tuyệt vời mà họ chợt lắng nghe được từ âm thanh của Pi, của Michael Parker, và của cả Lý An nữa. Tôi yêu cầu họ kể về nó. Họ mỉm cười. Rằng đó là một câu chuyện ngọt ngào cho ngày cuối tuần ấm áp.


Có người bảo tôi hãy viết lại những điều này, theo cách diễn đạt trơn tru và cảm xúc liền mạch hơn, có lẽ tôi nên học cách chia sẻ điều mình cảm nhận được để bất kỳ ai muốn cũng có thể hiểu được tôi nói gì về điều tôi yêu thích.

Tôi chọn viết về Pi và Richard Parker theo đúng như những gì diễn ra trong bộ não bé nhỏ và hạn hẹp của mình. Đây là bộ phim có cách mở và kết tương xứng rất tuyệt vời, có cả một khoảng cách để từ mở đi đến cái kết rất mãnh liệt và tần suất thay đổi liên tục làm mạch phim có tĩnh có động rất hài hòa. 

Bạn sẽ đi từ giai điệu du dương, ngọt ngào của cuộc sống, tôi không hiểu lắm về góc quay hay ánh sáng, âm thanh nhưng tôi biết đó là những thước phim đẹp về cuộc sống này. Bạn không cần phải quá chú tâm về nội dung phim nói gì, các lời bình luận người ta khen chê thế nào, bạn chỉ cần biết bạn đang đi qua cuộc đời của một người đặc biệt hoặc của chính bạn. Những bước thăng trầm rất rõ ràng, không chỉ đơn thuần là con chữ bạn thường nghe nữa, bạn thấy nó, thấy nó ngay trước mắt bạn, qua màn ảnh nhỏ...

Pi là một anh chàng có suy nghĩ náo nhiệt nhưng cái miệng lặng yên. Anh ta khiến tôi nghĩ đến một người bạn đi ngược lại :)). Trong phần đầu đời của Pi rất yên ả và bình lặng theo cách mà đời người bình thường luôn được định sẵn, gia đình sung túc, thông minh trong học hành, có niềm tin và nhiều niềm tin cho nhiều đấng tối cao. Chính điều ấy làm tôi nghĩ, liệu đó có thể là sự thử thách khốc liệt về niềm tin ấy cho phần sau này? 

Gần hết phần đầu đời của Pi, người để anh ta gặp Richard Parker, đừng hiểu lầm, đó là một con hổ Bengal với ánh mắt màu vàng rất đẹp, Richard không phải con người, đúng, nhưng Pi đã từng tin và đã tin con hổ ấy có tâm hồn và nó sống phải luôn thật có ý nghĩa, cũng nhờ điều này đã giúp Pi duy trì sự sinh tồn suốt 227 ngày lênh đênh trên biển.

Richard là chú hổ gần gũi với con người vì từ nhỏ chú ta đã bị bán cho sở thú - gia đình của Pi. Một con hổ hung dữ và tàn bạo theo cách nói của cha Pi, và ông cũng cho Pi bài học nhớ đời khi Pi muốn thử lòng tin của mình vào linh hồn con vật. Không có gì là sai đặt niềm tin vào điều mình muốn, tôi đã yêu con hổ ấy ngay từ khi nó bước ra từ thanh sắt lạnh lẽo, đôi mắt nó khi nhìn Pi ấm áp vô cùng, có thể tôi như Pi bị thu hút và yếu lòng ngay từ ánh nhìn đó, chỉ cần một chút nữa thôi cũng đủ để Pi chạm nhẹ vào trái tim của Richard - một điều mà quá nhiều người nghĩ viễn vông. Nhưng đó là chuyện của điều đã cũ kỹ, Pi đã hoảng sợ và đã gác qua niềm tin ấy đến khi chương mới trong đời Pi mở ra, như một định mệnh sắp sẵn, Pi gặp lại Richard và gần nhau trong gang tấc, trong tích tắc của sống chết đời người...

Bước sang một trang mới, gia đình Pi chuyển đến Canada sống, tất nhiên họ chọn đi đường biển để mang toàn bộ số động vật trong sở thú đi, và Richard cũng nằm trong số đó, có cả mẹ đười ươi, ngựa vằn và linh cẩu. Chúng đều gặp nhau cùng với Pi trên một con thuyền cứu sinh sau khi trận bão qua đi, một trận bão cướp đi tất cả những gì Pi có, gia đình và cô gái nhỏ trong mộng, cả niềm tin cũng nhỏ nhặt dần. Không thể nói Pi không tuyệt vọng hay đau đớn, Pi đã đi qua mọi thứ rất nhiều lần, từ lúc con linh cẩu giết chết ngựa vằn đến lúc mẹ đười ươi cũng không thoát khỏi nó và điều làm Pi hoảng sợ tột độ chính là Richard đã xuất hiện và cắn chết linh cẩu. Một con hổ dũng mãnh và giỏi bơi lội, săn mồi rất chuyên nghiệp. Với Pi đó là điều khủng khiếp thật sự lúc bấy giờ....

Trong thế giới nội tâm của Pi phẫn nộ y hệt như cơn bão vừa qua, ánh mắt Pi sâu hơn, đục màu hơn và anh ta từ bỏ đi nhiều thứ từ tôn giáo như ăn chay và giết động vật. Anh ta đã đau khổ vô cùng khi con cá chết trên tay mình, một chi tiết nhỏ về sự sinh tồn, Pi nhận ra anh ta cũng như Richard, không thể sinh tồn nếu không hi sinh những niềm tin về sự cứu rỗi. Và Pi quyết định dựa vào Richard để có thể tồn tại lâu hơn trong hi vọng mỏng dần đều. Một con hổ chiếm giữ chiếc thuyền cứu sinh và Pi học huấn luyện nó để có thể sống chung một thuyền.

Tôi thấy biển cả vốn dữ dằn nhưng cũng có lúc dịu êm, Richard cũng thế, sau nhiều ngày hung bạo, Richard cũng có lúc yên lặng nhìn Pi, ánh mắt nó y hệt thuở ban đầu Pi thấy nó, không biết Pi có thấy không nhưng Richard đã bảo vệ Pi theo cách của nó, theo cách của một con thú hoang dã không thể thuần hóa. Đi đến hồi này tôi thấy bình yên lạ kỳ, có lẽ mọi chi tiết đều trở nên hài hòa, sau đen có trắng, sau đêm có ngày, sau bão có nắng vàng êm, sau động biển lặng vô cùng. Tôi nhớ cái đêm mà Richard và Pi cùng nhìn xuống mặt nước, nhạc phim chuyển sang cảnh này vô cùng tốt, đó âm thành tính toong rất vang nhưng rất tĩnh, tai bạn sẽ có sự rung chuyển nhẹ ở màng nhĩ và bạn sẽ cảm thấy những hình ảnh đang hiện lên rất rõ ràng và cũng rất mơ hồ, đúng vậy, bạn sẽ thấy mọi thứ hiện lên quá vội vàng, như cuốn phim nhỏ quay chậm. Không chỉ đời Pi mà cả đời bạn cũng đang lắng đọng theo, rất hay nhỉ, khi tôi đặt mắt mình vào bộ phim này, tai của tôi cũng rất nhạy và cảm thụ theo nhạc để bắt cùng nhịp phim. Vì đạo diễn làm rất tốt và người soạn nhạc cũng rất giỏi.

Ở phần thứ hai gần hết là lúc Pi và Richard đối mặt với cơn bão lớn, và họ thiếu lương thực, nước ngọt trầm trọng. Richard yếu dần, nó nằm thoi thóp, Pi đã đặt đầu Richard lên người mình, đây là điều tuyệt vời nhất của bộ phim mà tôi mong đợi, Pi khóc thương cho người bạn đi cùng, khóc thương cho số phận, khóc cho niềm tin mà anh ta tin tuyệt đối, khóc cho hi vọng cạn dần. Đến lúc này thì tôi không còn nghi ngờ về linh hồn và suy nghĩ của Richard nữa, nó hoàn toàn có thật.

Cũng tới hồi kết, có lẽ đấng tối cao đã nghe lời thỉnh cầu của Pi, họ tìm thấy một hòn đảo, Pi và Richard được cứu, hòn đảo cưu mang và bao bọc họ. Ban ngày đó là một hòn đảo chỉ toàn những con Meerkat, nước ngọt và tảo biển. Nhưng vốn dĩ không có gì dễ dàng, nhận ra ban đêm đó là một nơi chôn cất người đúng nghĩa, Pi quyết định chuẩn bị số lượng lương thực đầy đủ và gọi Richard tiếp tục đi cùng mình. Cuộc hành trình sống còn của họ chỉ kéo dài thêm những phút cuối phim, rất chân thực và mang lại nhiều tiếc nuối trong tôi. Pi đã không giữ được Richard ở lại bên mình, khi trở về đất liền, con hổ ấy bước xuống thuyền và bước về phía khu rừng, tôi có nghe Pi trách rằng sao không nhìn lấy Pi một lần, sao không ở lại với Pi, tôi cũng trách Richard sao không quay lại một lần. Có người bảo tôi rằng có quay lại đấy, mà tôi không để ý thôi, tôi có nhìn rất rõ, rất kỹ chi tiết ấy, tôi không hiểu và chắc có lẽ điều ấy chỉ Pi hiểu. Richard vốn dĩ là một con thú hoang dã không thể thuần chủng, Pi là một anh chàng có nhiều niềm tin và không thể từ bỏ. Vậy thì có gì để ngăn cách được họ nữa? Kết thúc bộ phim, tôi ngồi yên một khoảng, sau đó thì cười, cuộc sống vốn dĩ rất công bằng và cũng rất tươi đẹp, luôn có những cái kết có hậu cho bất cứ ai có niềm tin và hi vọng bền vững. Phải không nhỉ?!

Cát Chi

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

Viết cho cơn mưa tháng mười hai

Lại một cơn mưa.
Đêm qua trở về, rét run người.

Có một cô gái nọ, cứ mỗi khi em phiền lòng là trời lại chuyển mưa. Tôi vốn là người thích đi dưới những cơn mưa, nhưng từ khi bắt đầu ốm đi một chút, dễ run lên vì lạnh hơn, và thể lực kém hơn, những cơn mưa bắt đầu đáng ngại.


Đương nhiên là tôi ngại việc để em phiền lòng hơn là ướt như con chuột lột. Nhưng chuyện đó càng ngày càng không thể nào phân biệt nổi.

Thành ra như một thói quen, mỗi khi ra đường đúng lúc trời mưa, tôi lại muốn nhắn cho em: "Này cô bé! Em lại phiền lòng đấy chăng?"

Rồi nếu như không có việc gì quá hệ trọng, tôi luôn đứng lại dưới mưa để cơ thể run lên vì lạnh, còn răng thì đánh bò cạp như Mr Pacman. Tôi biết, khi em không còn giận nữa, trời sẽ ngưng mưa. Và mặc dù em chả rỗi rãi gì để bận tâm đến cơn lạnh của tôi, hay những thứ đại loại như vậy, đôi khi em cũng sẽ dừng cơn mưa sau một thời gian dài dặc nào đó.

Lúc này, mọi thứ có thể đã rất khác.

Câu chuyện về cô gái của mưa, cô gái vẫn thường líu ríu cho tôi nghe về những giấc mơ, những nỗi niềm ký ức, và cả những điều nhẹ nhàng thường nhật...

Tôi từng khao khát được nói câu vĩnh biệt với em đến khoảng một triệu lần. Nhưng tôi lại quyết định đánh đổi rất nhiều thứ để được ở bên em, được đứng dưới mưa và bảo rằng: "Anh sẽ đứng đây cho đến khi nào em ngưng nó lại", được lặng lẽ ngắm nhìn em dần dần trở lại là con chim nhỏ líu ríu hót bên cuộc đời thay vì thu mình thành một con mèo nhỏ ướt mưa, được viết cùng em những câu chuyện mà tôi không đời nào nắm được kết cục, được dạo quanh những con phố mà tôi vĩnh viễn sẽ không đi cùng ai khác sau này vì sợ người đó sẽ làm tôi nhớ đến em... Không cần những kỷ niệm ngọt ngào bởi vì em chính là mật ngọt. Hoặc từng là mật ngọt. Chẳng sao cả! Thứ gì cũng có giới hạn của nó, và người ta luôn cần một cái cớ nào đấy để nói những lời mà họ biết chắc là sẽ phải nói ra.

Rồi những cơn mưa sẽ sớm cũ kỹ. Chẳng ai lại cần những kỷ niệm khi đã hanh hao. Và rồi biết đâu một ngày đẹp trời nào đấy, em bỗng dưng nghĩ lại, và chợt thấy tôi giống như một thằng khốn nạn ra sao. Em sẽ căm phẫn tôi nhiều đến mức nào. À! Hoặc không. Bởi vì điều đó quả thực quá vô nghĩa đối với em. Em chỉ quan tâm đến những người em yêu quý. Đừng khóc! Em đâu cần phải yêu tôi!

Tôi cũng đã quyết định không yêu em nữa.

Nhưng những cơn mưa sẽ cứ vẫn làm tôi nhớ. Giống như cái màu lúa mì đối với con chồn nhỏ của chàng Hoàng tử bé. Em tuần hóa tôi. Em là đóa thiên hương duy nhất trong cõi hồ sơn ứng mộng của tôi. Tôi vẫn lo lắng nếu không được đặt em vào trong cái bầu tròn tránh rét, hoặc sau tấm bình phong chắn gió. Những cái gai nhỏ xíu của em chỉ có thể làm đau tôi, chứ chẳng thể ngăn được hàm răng của các con cừu.

"Tôi chẳng biết gì ra gì gì cả. Đáng lẽ tôi nên xét đoán theo những lời nàng nói ra. Nàng làm thơm tôi và soi sáng cho tôi. Đáng lẽ tôi chẳng nên bỏ đi trốn. Đáng lẽ tôi phải đoán thấy tình ý yêu dấu của nàng ở phía sau những mánh khóe lai rai kia mới phải. Hoa mang mâu thuẫn nhiều lắm ở trong mình! Nhưng xưa kia tôi còn nhỏ quá, đâu có biết cách thương yêu đúng lối."

Cũng được! Cứ như thế này sẽ tốt. Cho cả em lẫn tôi. Và cho một ai đó khác nữa. Đây đâu phải cổ tích mà mong có điều kỳ diệu phải không?

Quay trở lại với cơn mưa. Sau khi ướt như chuột lột, tôi lăn một giấc thật dài và bắt đầu mơ. Lâu lắm rồi mới mơ.

Bạn bè lâu như vậy, một lời nói thật cũng không dám nói, đã thế, nói đi một cái là đi luôn.

Người ta nói, một mối quan hệ tốt không phải là một mối quan hệ không có cãi vã, mà là mối quan hệ mà dù yêu dù ghét, người ta cũng vẫn luôn muốn ở bên nhau.

Ngay cả em cũng vậy, chỉ một khoảnh khắc không vui là đe dọa chấm dứt mọi thứ. Lời chia tay sao lại dễ buông ra đến vậy?

Đó là bởi vì mối quan hệ đó không đủ tốt. Và đối với họ, nó giống như một gánh nặng. Chẳng ai muốn giữ lại một gánh nặng. Khi vui, gánh nặng đôi khi không thành vấn đề. Nhưng đã không vui thì người ta sẵn sàng vất bỏ.

Hắn chạy trên chiếc xe đạp của tôi, à, đúng ra là chiếc xe đạp cũ của tôi, trong khi tôi đi bộ. Hắn đuổi theo tôi. Tôi cố tình ra vẻ không quan tâm. Những con phố mà ngày trước ba thằng từng đi đến mòn vẹt cả gót, đến mức gần như có thể nhớ được đến từng hòn sỏi nhỏ. Xe thì đương nhiên là nhanh hơn đi bộ. Nhưng tôi vẫn cứ rảo bước cho hắn không cách nào bắt kịp mình.
- Này!
- ...
- Này! Điếc rồi hả?
- ...
- Này! Anh gọi chú đó!
Hắn kéo vai tôi, và rồi ngay lập tức tôi cho hắn bò càng. Vẫn là một thằng ngốc yếu ớt và chậm chạp - tôi nghĩ. Thế rồi tôi lại đi.
Hắn chạy theo nài nỉ tôi không ngừng theo đúng cái kiểu cà rởn của hắn cho đến khi tôi thấy mình ngồi bên cạnh hắn ở một khoảng công viên nho nhỏ cạnh ĐHQG.
- Này! Nó dạo này thế nào?
- Không phải chuyện của mày.
- Ít ra...
- Không có ít ra gì hết! - Tôi gầm lên - Một khi đã nói câu vĩnh biệt, mày nghĩ là mày còn có thể níu kéo à?
- Tao...
- Cuộc đời của người khác đ*o phải thứ để cho mày bỡn cợt! Thích thì nhặt lên, không thích thì vất đi. Dù cho nó có yêu mày đi chăng nữa thì cũng sẽ đến lúc nó đ*o thể chấp nhận sự khinh miệt của mày nữa!
- Tao không khinh miệt!
- Đó là mày nghĩ thế thôi!
...
- Nhưng tao nhớ, mày đã từng là bạn thân của tao! Tao luôn nhớ mày giống với cách mà tao nhớ thằng C! Một thằng khốn nạn đ*o khác gì mày! Nhưng tao không tha thứ cho mày!
- ...
- Bạn thân của tao! Mày là một thằng chó đểu. Nhưng mày là bạn của tao, người mà tao đã sẵn sàng làm rất nhiều thứ vì mày! Tao quý mày, nhưng tao cũng khinh mày! Khinh hơn tất cả mọi thứ. Bởi vì mày là bạn tao!

Rồi tôi nói với thằng bạn thân còn lại trong cái nhóm ba thằng:

- Cả mày nữa đó thằng chó! Tao đ*o bao giờ chấp nhận cái loại như mày! Một thằng lúc nào cũng oang oang lên rằng căm ghét tiêu cực, căm ghét giả dối, căm ghét sự yếu hèn, nhưng mày lại là thằng đầu tiên nghĩ đến chuyện làm việc tiêu cực, lừa dối gia đình, lừa dối tất cả, lừa dối chính bản thân mày! Mày khốn nạn đến mức vẫn nghĩ mình thanh sạch trong khi mày bẩn thối như một đống Mày chẳng làm được cái chó gì cho đời, nhưng lại không ngừng chỉ trích thành tựu của người khác, chỉ trích sự cố gắng của người khác, để rồi say mê những thứ phù phiếm của những kẻ chỉ biết nói miệng (quê tao người ta gọi là đĩ miệng), huyễn hoặc mày bằng những lời có cánh nhưng đôi khi lại đ*o có cái gì sạch sẽ. Mày khinh thường những người nói cho mày biết sự thật, khinh thường những người cho mày thấy những lời tự đáy lòng của họ, rồi tôn vinh những đứa dối trá, ưa huyễn hoặc kẻ khác về sự vĩ cuồng vô nghĩa nào đó ở bên ngoài. Đúng! Tao khinh mày! Bởi vì tao quý mày, con người mà cá tính và đam mê của nó do chính tay tao góp phần tạo nên...

Đã lâu lắm rồi không cảm thấy muốn gào lên nhỉ?

Mà thôi! Làm việc thôi!

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

Cấm chơi game: Nên hay không?

Tôi chùn lại ý định viết nốt một bài viết còn đang dang dở để hoàn thành câu trả lời ngắn này: Rằng vì sao game vẫn là một thú vui giải trí nên được khuyến khích, hay ít nhất là không đáng để những nhà giáo dục ngăn cản những đứa trẻ của mình tìm đến với nó?


Những người phản đối thông thường sẽ dựa trên những luận cứ sau đây:
1. Hao phí thời gian học hành cho những giờ “cày cuốc”
2. Bị ám ảnh quá nhiều từ các hình ảnh, hành động trong game.
3. Tốn tiền.
4. Điều có lẽ là quan trọng nhất, là cố tình vi phạm quy định.
Nhưng những kẻ ủng hộ thì cũng không bao giờ chịu kém:
1. Không thể buộc người học dành toàn bộ quỹ thời gian để tập trung học. Thời gian giải trí (như thời gian chơi game) là cần thiết, thậm chí bắt buộc.
2. Rất nhiều thể loại game có khả năng cung cấp lượng kiến thức lớn và hiệu quả hơn nhiều so với học theo cách thông thường.
3. Bất cứ công việc hay thú vui giải trí nào cũng cần tiền.
4. Quy định không hợp lý thì không cần tuân, hoặc ít nhất, cố tình vi phạm quy định có thể tạo ra những kỷ niệm đẹp thời đi học.
Những người phản đối có thể liệt kê khoảng 93879287 trường hợp đã gần như đánh mất tương lai của mình vì đam mê các trò chơi điện tử. Một nửa trong số đó thậm chí là những người đã hoàn toàn trưởng thành về mặt nhận thức. Điều này khiến họ nghĩ rằng lý lẽ “dành thời gian chơi game là bán rẻ tương lai” là lý lẽ hùng mạnh hơn tất cả! Tuy nhiên, tôi sẽ bắt đầu bài viết này bằng cách đưa ra những quan điểm khác để, trước tiên, so sánh xem lý lẽ trên có thật là điều tồi tệ nhất mà trò chơi điện tử có thể mang lại cho bạn hay chưa.

1. Những tác hại của trò chơi điện tử:

Có một sự thật là những nhà giáo dục của chúng ta xếp tất cả các loại trò chơi điện tử vào cùng một loại. Điều này không chỉ đơn giản là một nhận định sai lầm, mà còn thừa sức biến họ, những người đáng ra phải hiểu rõ được bản chất của vấn đề, từ đó đưa ra hướng nhìn phù hợp, thành những lão già thiển cận và chỉ biết cấm đoán tất cả những điều mà họ không biết.

Tôi cho rằng, trong phần bài viết về tác hại này, bản thân tôi chỉ cần liệt kê một cách đơn giản các loại trò chơi là đủ khiến cho bất kỳ một bạn đọc nào cũng có thể hiểu rõ được toàn bộ những tác hại lớn nhất của game.

- Trò chơi giải trí đơn thuần: Những trò này gần như không có yếu tố cày cuốc. Vui thì chơi. Chán thì nghỉ. Cho dù 100 năm sau mới giở ra chơi lại cũng tuyệt đối không có vấn đề gì. Vì phong cách... dễ dài này, các trò chơi loại này có số lượng người chơi đông đảo nhất thế giới, nhưng lại có rất ít những kẻ đam mê đến bỏ công bỏ việc vì nó.

Mario gắn bó với tuổi thơ nhiều người


- Các thể loại trò chơi phổ thông khác: Đối với loại trò chơi này, các nhà chỉ trích sẽ có thể nhiễm nhiên quay về với 4 luận điểm phê phán ban đầu để chống lại sự phổ biến của nó trong lòng những đứa trẻ của họ. Hầu hết các tựa game loại này đều cần nhiều tiếng đồng hồ để "cày cuốc", đồng thời gây ra những ám ảnh say mê nhất định lên người chơi khiến cho họ không dễ dàng gạt bỏ chúng ra để tập trung làm việc khác. Nói chung, đây là loại trò chơi phổ biến nhất, và được xem như sản phẩm tiêu biểu nhất cho tác hại của game từ trên quan điểm ta đã nêu ở đầu bài.

- Trò chơi tác động mạnh đến tâm lý người chơi: Loại trò chơi này thường được gắn với các thể loại nhập vai lấy bối cảnh (thường là những) xã hội ngầm, hoặc một thế giới bạo lực nào đó. Tại đây, người chơi thường phải tham gia những cuộc giết chóc, chìm đắm trong thế giới tăm tối của những lời chửi rủa, dao súng, và đôi khi là những cuộc hoan lạc kinh tởm nhưng hấp dẫn. Vì sao hấp dẫn? Vì những trải nghiệm đầy kích thích (và không bao giờ bị trừng phạt xứng đáng), điều mà người chơi sẽ gần như không bao giờ được trải nghiệm trong thế giới thật.

Call of Duty - 1 trong những tựa game rất bạo lực


Nhiều người cho rằng, trò chơi điện tử là trò chơi điện tử, còn ngoài đời là ngoài đời. Nhưng thực tế thì những khao khát bạo lực được thực hiện trong game có khả năng nuôi lớn mầm mống tai ương lớn hơn nhiều so với những gì người ta có thể tưởng tượng ngay cả khi người chơi không còn ở lứa tuổi vị thành niên. Thói quen nhìn ngắm xác chết, những pha giết chóc kinh hoàng, quỷ dữ, hay đơn giản chỉ là những màn đua xe tốc độ cao... trong môi trường đồ họa ngày một giống thật hơn có thể khiến con người hoàn toàn mất đi sự mẫn cảm của lòng nhân đạo. Họ dễ dàng cho rằng giết người đôi khi không phải là một việc gì đó quá ghê gớm, và cuộc sống thác loạn thực sự kích thích nhiều hơn là đáng ghê tởm.

Ở đây chúng ta có những ví dụ tuyệt vời, trong đó tiêu biểu nhất có thể kể đến vụ anh chàng "Rambo thời hiện đại", người vừa nã súng "tiêu diệt" gần 100 khách du lịch ở Mỹ cách đây chỉ chưa đầy 12 tháng. Đương nhiên gã "Rambo" này chắc chắn là một người đã thành niên và không có bất kỳ vấn đề gì về tâm thần cả!

Và điều đáng giật mình hơn là, những nhà giáo dục của chúng ta vẫn chưa bao giờ nhận thức được sự khác biệt giữa các loại trò chơi điện tử này. Một số người quyết định cấm cản tất cả các thể loại trò chơi với cùng một lý do là mất thời gian hoặc quá bạo lực trong khi còn lâu mới hiểu rằng những món kiểu như FIFA - PES, Kirby and friends, Super Mario... thì có tìm mỏi mắt cũng không thấy yếu tố bạo lực ở đâu cả! Mà bạn biết đấy, ở độ tuổi tầm 14-20 tuổi, lứa tuổi đang học cách nhận thức thế giới, những đứa trẻ sẽ sớm nhận ra rằng, việc bạn đánh giá sai lầm về mức độ bạo lực/mất thời gian của 1 trò chơi nào đấy đồng nghĩa với việc bạn chẳng biết cái quái gì về trò chơi điện tử cả! Hệ quả là, chúng không tin vào mọi lời bạn nói về game, và gần như sẽ quyết định đi ngược lại toàn bộ những cấm cản mà theo chúng là thật vô lý và thiếu thông minh.

Đó mới là tác hại ghê gớm nhất của trò chơi điện tử. Buồn cười thay! Nó đến từ chính những người sợ hãi tác hại của trò chơi điện tử lên những đứa trẻ.

2. Trò chơi điện tử: Từ giải trí đến một bộ môn nghệ thuật thực sự. Hay là vì sao trò chơi điện tử lại xuất hiện trên thế giới này?

Trong mục này, tôi sẽ tập trung vào 2 câu hỏi lớn lần lượt là: Những tác hại vừa nêu ở trên có thực là bản chất riêng của trò chơi điện tử không? Ngoài giá trị kinh tế thì còn nguyên nhân nào khiến người ta đua nhau tạo ra các trò chơi hay không?

Ở câu hỏi thứ nhất, tôi chắc chắn đứng về phe cho rằng, hầu hết những tác hại trên không phải là bản chất riêng, nghĩa là chỉ có ở trò chơi điện tử.

Thực tế thì không có người nào cho rằng, các thú vui của những người lớn tuổi hơn như bóng đá, cờ tướng, đá gà, đua ngựa, đánh bạc hoặc bất kỳ một bộ môn giải trí có liên quan đến phân định thắng thua, là những thú vui có hại. Mặc dù, mọi người cũng không thể phản đối rằng, có một tỷ lệ rất cao những người lớn tuổi biến tất cả các bộ môn thể thao loại này thành một phương tiện cá cược. Trò chơi điện tử, nếu được xem như là một phương tiện giải trí quá sức tốn kém, thì ít ra, quá trình nạp tiền tăng cường sức mạnh trong thế giới game cũng không thể so sánh được với thế giới cá cược từng được mệnh danh là thần phá sản.

Ý kiến phản đối có thể xuất hiện trong trường hợp này là: Tôi không tham gia cá cược, tôi vẫn có thể tận hưởng các môn thể thao trên như một hình thức giải trí đơn thuần, hoặc dùng nó để mài dũa các kỹ năng nào đó.

Đáp án là, ngày nay hầu hết các trò chơi trực tuyến (thứ khiến người ta phải nạp tiền để chơi) đều chuyển dần sang hình thức Esport – thể thao điện tử, tức là, nạp tiền có thể giúp bạn mạnh lên, đẹp hơn, hoặc dễ chơi hơn, nhưng không quyết định chiến thắng của bạn. Do đó, bạn có thể nạp tiền nếu muốn. Nhưng nếu bạn không nạp, chẳng có vấn đề gì lớn lao cả! Bạn có thể giải trí hoàn toàn miễn phí với nó hoặc dùng nó để mài dũa các kỹ năng quan sát, phán đoán tình huống, tư duy sáng tạo dựa trên những thứ có sẵn không khác gì các môn thể thao thông thường.

Vẫn trong câu hỏi thứ nhất này, phe phản đối cho rằng, ngay cả khi trò chơi điện tử là tốt về mặt bản chất, thì việc quá đam mê nó có thể khiến giới trẻ ít tập trung vào những việc quan trọng với tương lai họ.

Luận điểm này thực sự rất mạnh. Để giải thích, tôi cần phải mượn đến câu hỏi thứ 2, rằng người ta tạo ra trò chơi điện tử để làm gì ngoài mục đích kinh tế.

Đâu là việc quan trọng cho tương lai của giới trẻ?

Rất dễ dàng để trả lời rằng, đó là việc học.

Vấn đề là, bạn học cái gì? Và học như thế nào?

Toán – lý – hóa – văn – sinh – sử -địa – GDCD… nếu đó là những gì bạn định nói, thì chúng ta xứng đáng có thêm một cơ số câu hỏi khác: Rằng những môn học đó ngoài việc giúp chúng ta vượt qua kỳ thi phổ thông, còn có tác dụng gì cho việc phát triển nhân cách, kỹ năng và tinh thần của giới trẻ?

Các trò chơi trực tuyến ngày nay ngày càng có yêu cầu gắt gao hơn về khả năng tư duy, phán đoán tình huống, tận dụng tiềm năng, phản ứng và phối hợp đồng đội. Trong khoảng 5 năm nay, các cửa hàng internet công cộng bất ngờ mọc lên như nấm sau mưa bất chấp sự phát triển của internet gia đình. Đó tất nhiên không phải trùng hợp ngẫu nhiên, mà là bản chất của các trò chơi luôn cần phải giao tiếp liên tục với đồng đội cũng như mãi dũa kỹ năng.

League of Legends là một ví dụ


Trong khi đó, hầu hết các trò chơi ngoại tuyến được đánh giá tốt đều sở hữu nền tảng văn hóa – khoa học – lịch sử tuyệt vời! Thời gian trước, tôi nhận được yêu cầu dạy thêm khá đặc biệt: Kèm cặp để cung cấp cho một học sinh cấp 3 những kiến thức tốt về văn hóa, lịch sử và văn chương (thật không thể tin được rằng ở Việt Nam cũng còn những bậc cha mẹ bất chấp mối lo về quá trình luyện thi đại học để quan tâm đến nền tảng văn hóa của con một cách sâu sắc như vậy). Vấn đề là cậu học sinh này hoàn toàn không thích lịch sử, căm ghét văn chương và xem thường văn hóa. Trong đầu óc cậu, những bài toán được giải thích một cách logic (để được thuộc lòng máy móc) mới là tinh hoa trí tuệ, mặc dù cậu không sao giải thích được cho điều đó.

Tôi đã gần như thất bại chỉ trong vòng 1 tuần dạy đầu tiên. Lý do rất đơn giản, dù có thử bất kỳ cách giảng giải nào, cậu ta cũng không nghe.

Cho đến khi, bằng một cơ duyên thú vị mà tôi sẽ kể trong một bài viết khác, bạn tôi khuyên tôi nên chơi thử God Of War 3.

Chỉ một tiếng đồng hồ trải nghiệm, tôi đã tin chắc rằng, cậu nhóc của tôi cần phải thử thứ này.

Đúng một tuần sau đó, ngay khi tôi vừa dắt xe đến cửa, cậu ta đã vội hỏi: “Thầy! Rốt cục thì Zeus có đứa con nào tên là Kratos hay không?”

- Trước tiên, em phải biết, rốt cục thì Zeus là ai cái đã.
- …
Những trải nghiệm lịch sử – văn hóa – kinh tế mà những God of War, Assassin’s Creed, GTA, The Elder Scrolls, Total War… mang lại là không thể tuyệt vời hơn, chí ít là ở trong hiện tại.



Thêm vào đó, trong thời đại ngày nay, mọi thứ đã trở nên rất khác so với 100 năm, hoặc thậm chí là 1000 năm trước, điều gì giúp bạn tin rằng giới trẻ chỉ cần tiếp tục đến trường nghe giảng, đọc sách, và thậm chí là đối thoại song phương (điều còn lâu mới xuất hiện đại trà ở Việt Nam) là đã đủ để mang lại (chí ít là) hiểu biết đầy đủ?

Một nghìn năm trước, 95% dân số không biết chữ, phương pháp giáo dục tuyệt vời nhất là học thuộc lòng. Điều này đã được phát huy triệt để cho đến khoảng thế kỷ 18, khi truyền thuyết kể lại rằng, không người Việt nào lại không thuộc Truyện Kiều (tôi tin là hư cấu, vì ít ra cũng sẽ có vài trăm người không thuộc).

Một trăm năm trước, với sự phát triển của tư duy logic và khoa học thực chứng, phương pháp giáo dục xuất sắc là đối thoại. Vào thời đại đó, người ta không tin vào các đại tự sự nữa! Trái đất có thể phải chuyển động chứ không phải đứng im, tôi có thể không phải là ông chủ của chính mình, mà chỉ là nô lệ của vô thức… đại loại thế. Hệ quả là, bạn không thể bắt người khác tư duy theo cách của mình được nữa, và bản thân bạn và những gì bạn biết, với tư cách là một nhà giáo dục, cũng phải sẵn sàng đối thoại với các ý tưởng chống lại bạn để “tồn tại một cách lành mạnh và đúng đắn” (John Stuart Mill).

Thế rồi chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây, người ta lại bắt đầu tư duy theo một kiểu hoàn toàn khác. Văn hóa hình ảnh thay thế hoàn toàn nền giáo dục âm thanh. Người học về cơ bản tin rằng, mọi cơ sở lý thuyết siêu hình học nói chung hay tranh luận bằng lời lẽ nói riêng đều phù phiếm và không đúng đắn. Các nguyên tắc lý logic không còn đủ đẻ chứng minh sự thật (mặc dù nó vẫn là cơ sở). Hình ảnh và các videoclip xuất hiện. Nhân loại nhận ra rằng, thông tin mà hình ảnh mang lại là hiệu quả và rộng rãi hơn rất nhiều so với chữ viết. Eco nói, “đừng bao giờ mơ từ bỏ được sách giấy”, nhưng thực ra, sách giấy đang dần thu hẹp lại ở những nội dung cực kỳ hạn hữu.

Nhưng đó chưa phải là vấn đề thực sự đối với cuộc chiến tranh giữa giáo dục kiểu cũ (thứ có thể được bổ trợ nhờ hình ảnh và videoclip) và trò chơi điện tử.

Các trò chơi điện tử ngoại tuyến, tinh hoa của thế giới trò chơi điện tử, dần dần mang lại những trải nghiệm có một không hai mà ngay cả văn chương và điện ảnh cũng không có cách nào mô tả được. Lý do là, khác với văn chương và điện ảnh, những phương tiện nghệ thuật luôn kéo người xem vào con đường của họ và buộc người xem phải chứng kiến những điều mà họ muốn, trò chơi điển tử quyết định chuyển toàn bộ quyền quyết định về điểm nhìn, hành động và suy nghĩ cho người chơi. Ở đó, bạn vẫn cần đến đúng nơi đúng lúc để hoàn thành một nhiệm vụ nào đó, nhưng điều đó không bắt buộc. Nếu bạn muốn, bạn có thể đi câu cá trong lúc người ta đang hành quyết Napoleon, tán gái khi cây thần Yggdrasil sụp đổ, hay bắt thỏ lúc Zeus đang ném tầm sét vào Titan… Dĩ nhiên điều này không thực sự được khuyến khích. Nhưng nó có nghĩa là, trò chơi điện tử không ép buộc bạn phải hiểu biết, mà chỉ điều chỉnh giúp bạn chủ động tiếp cận hiểu biết. Mọi hiểu biết đến từ tự do đều có giá trị, trong khi nhồi nhét thì không. Hãy hỏi 100 người đã thành đạt rằng, sự khác biệt về quá trình học tiếng Anh của họ ở trường Đại học và sau khi đi làm là như thế nào. Phần lớn các câu trả lời sẽ là, thời đại học không thực sự tốt, nhưng sau khi ra trường thì lại khá tuyệt vời (ắt là vẫn có ngoại lệ, nhưng tỷ lệ không lớn).

3. Liệu có nghĩa là, Trò chơi điện tử thực sự tốt?

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

Có một cơn mưa vào giữa tháng ba

Tôi dễ dàng từ bỏ ý định ngừng viết những thứ vớ vẩn của mình chỉ với một cảm giác bé nhỏ rằng, giả như không viết điều gì đó, tôi hẳn là sẽ gặp hơi nhiều khó khăn trước khi bắt đầu buổi dạy tối nay.

"Sáng nay có mưa thật đấy Lãng ạ"

Một cơn mưa vào giữa tháng ba.


Tôi ghét tháng ba. Có rất ít lý do để biện hộ cho điều đó, nhưng lý do mà tôi ít dám nói nhất chính là nó gắn với một sự biến mất đầy nuối tiếc của một cố nhân, cái cớ nho nhỏ để tôi lẳng lặng trốn về nhà đánh một giấc thật dài trên cái giường trải chiếu trúc của riêng (2 anh em) mình. Một vài lý do khác là trời rất dễ trong veo như thế lão già ấy chả thèm mặc áo quần vậy. Cơ mà dù sao đó cũng là việc của trời.

Việc của tôi là giữa một đống thứ nhì nhằng, tôi lại nghĩ về một điều có ít liên quan đến công việc, cũng như những mục tiêu quan trọng mà mình phấn đấu. Tôi ngủ say sưa trong một ngày bỗng nhiên cảm thấy cần sử dụng ngày nghỉ bù chẳng để làm gì cả. Tôi đọc Justice, tôi đọc Les Confessions, tôi đọc Câu chuyện vô hình và đảo, tôi đọc Mười người da đen nhỏ, tôi đọc Phê phán lý tính thuần túy, tôi đọc Mỹ học Diderot, tôi đọc Khế ước xã hội... Tôi đọc mọi thứ bất thình lình nhìn thấy trên giá, mỗi thứ một ít, không thứ gì thực sự chú tâm, không thứ gì thực sự tạo ra hứng thú như bình thường. Thế rồi tôi chơi game, tôi lướt fb, vào youtube, đọc f33... làm mọi thứ vẫn làm hằng ngày với cảm giác chán nản không biên giới.

Có một số câu hỏi ngủ yên nhiều tháng qua vẫn chưa được trả lời với lý do bận tối tăm mặt mũi. Nhưng thực ra ngay lúc trống rỗng như thế này, tôi vẫn phớt lờ ý định trả lời chúng. Người ta gọi cảm giác này là gì nhỉ? Tương tư à? Cười!

“Để anh một mình nhớ em em cứ đi đi”

Mưa tháng ba xuống bất ngờ quá! Đến nỗi không thể tin vào tai mình. Đến nỗi phải đợi một tin nhắn từ bên kia Sài Gòn mới biết rằng đó là sự thật chứ chẳng phải mớ ngủ. Ngọt ngào thật! Những cơn mưa trái mùa luôn ngọt ngào trống rỗng như thế đó! Một sự ngọt ngào còn đáng sợ hơn lời cay đắng yêu thương từ những ngày nắng...

Dù sao thì cũng chỉ là một cơn mưa nhỏ. Hẳn là có ai đó ngoài kia gửi chút mưa vào như đã hứa từ vài vạn năm trước.

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

15th february 2015

Lẽ ra là rất nhiều cảm xúc cuộn tràn để dành cho buổi tối, nhưng kết quả cuối cùng lại hoàn toàn là sự trống rỗng.


Tôi muốn nhìn thấy nàng, muốn níu lấy tay nàng bởi từng lời nàng nói như đâm vào tim tôi phũ phàng như gió lạnh mùa đông. Thế rồi, dưới một bầu trời dày sao mà có lẽ chỉ một mình tôi thấy, tôi ném cho nàng những lời chua chát như thể tôi căm thù nàng đến tận xương tủy. Những lời yêu thương sao lại nhạt nhẽo đến vậy? Tôi hỏi. Nhưng nàng không nói gì cả! Nàng sợ tình yêu giống như cách mà nàng từng sợ hãi quá khứ. Nàng nói nàng không cần thứ đó. Nàng chỉ cần một người không mang lại cho nàng quá nhiều cảm xúc yêu thương, hoặc thứ gì đại loại như thế, nơi mà nàng có thể sống cuộc sống theo ý mình mà không cần phải quá bận tâm về cảm xúc với họ, thứ luôn làm phiền nàng như khi nàng nghĩ về tôi. Tôi ngưng lời lại và quyết định trở vào nhà ăn nốt chén cơm muộn. Chén cơm chan đầy cảm giác mệt mỏi và trống rỗng không biên giới.

Nàng vĩnh viễn là người con gái tuyệt vời nhất mà tôi từng biết trên cuộc đời, người luôn lo lắng cho một kẻ xấc xược, vô kỷ luật và nhàm chán như tôi bằng cả tấm lòng. Khi tôi uống rượu, nàng ngăn tôi lại bằng những tin nhắn và cả sự thờ ơ. Khi tôi sốt cao gần như bất tỉnh, nàng gần như muốn chạy xuyên qua thành phố chỉ để xem tôi như thế nào trong khi những người trong ngôi nhà tôi ở gần như không hề hay biết. Khi tôi bế tắc không còn lối thoát trong công việc, nàng níu tay tôi ra bằng những cử chỉ nhẹ nhàng gần như im lặng. Khi tôi gần như không thể nuốt nổi món cơm cứng tương tự như đá cuội trong văn phòng công ty, nàng thức khuya dậy sớm nấu cơm cho tôi ăn mỗi ngày. Khi bạn thân của tôi bảo vệ luận văn, nàng lại tất bật chạy đôn chạy đáo lo mua bông gói hoa dù chân đau chưa lành. Khi tôi vướng vào một vụ lộn xộn đấu đá, nàng lo lắng đứng ngồi không yên. Khi tôi đi dạy về muộn trong tình trạng bệnh chưa khỏi, nàng dặn dò từng tí một như chăm trẻ nhỏ. Khi tôi mê thức khuya chơi game và ngủ nướng lười thể dục, nàng vừa dịu dàng nhắc nhở khéo léo, vừa ép buộc tôi tuân thủ kỷ luật bằng cách riêng của mình... Có đến hàng triệu thứ để nhắc đến, những điều khiến cho nàng trở thành cô gái duy nhất mà trái tim tôi vẫn hằng tưởng nhớ bất chấp thế gian còn bao nhiêu người. Thế nhưng, người con gái đó...

Nàng nói thích được ngồi sau xe, cùng tôi dạo quanh khắp các con đường. Tôi cười rằng nàng sẽ chẳng bao giờ thích nổi vô số con đường mà tôi đưa nàng qua, giả như con hẻm nhỏ nằm bên hông trại giam Chí Hòa. Nàng cau mày. Nàng có cái cách cau mày, để rồi cười tươi rói như nắng mùa thu, không thể lẫn vào đâu được. Tôi yêu nàng, yêu cái nụ cười và yêu hàm răng khểnh chẳng theo quy luật gì của nàng. Yêu cả khi nàng chẳng bao giờ nói một câu ngọt ngào nào với tôi. Đúng như mẹ tôi từng nói: “Loại người dẻo miệng như mày, thể nào cũng sẽ gặp mấy đứa con gái chả bao giờ nói ngọt con ạ”.

Nhưng thực ra thì nàng ngọt ngào bằng toàn bộ những thứ ngọt ngào nhất trên trái đất này cộng lại. Những câu chuyện khiến cả hai cười ngặt nghẽo. Sự say mê khi nàng theo đuổi những điều nàng thực sự yêu thích. Buồn – vui – thương – giận bao giờ cũng làm ánh mắt nàng long lanh theo những cách khác nhau. Nàng đẹp theo một cách rất khác cái cách mà nhân loại có thể chiêm ngưỡng, vẻ đẹp chỉ dành cho riêng tôi, chí ít, tôi nghĩ vậy. Đương nhiên, có khoảng 5-6 người khác cũng tin là nàng đẹp, nhưng đó là một vẻ đẹp rất khác. Những lúc như thế, tôi nhìn nàng say đắm, để rồi nàng đỏ mặt và lớn giọng: “Anh nhìn cái gì đấy?”. Tôi cười nhẹ. Đố biết anh nhìn cái gì đấy...

Nhiều năm tháng quen nàng, để rồi trải qua cuộc sống có hình ảnh của nàng, từng lời tôi nói, từng câu thơ, hay từng đoạn tản văn tôi viết trên facebook, nàng gần như chẳng bao giờ nhấn like, nhưng đều đọc nó, đọc thật tẩn mẩn và kỹ lưỡng. Nàng nói nàng vĩnh viễn sẽ không bao giờ ở bên tôi, người mà chẳng may nếu nàng rời bỏ, sẽ chắc chắn để lại trong những trang viết những điều đau buồn, u tối và chán nản. Nàng ghét sự nhạt nhẽo như cách tôi bình luận. Về cơ bản, tôi là loại người mà nàng cả đời cũng không muốn ở bên cạnh: Lộn xộn, nhàu nhĩ, vô kỷ luật, nghệ sĩ và ngạo mạn. Nàng đau buồn vì tôi nhiều hơn bất kỳ người nào từng xuất hiện trong cuộc đời nàng. Hoặc ít ra là tôi nghĩ vậy. Đó có thể là một lý do khiến tôi trở nên còn lâu mới xứng đáng ở bên nàng.

- “Anh đi đi! Và đừng bao giờ trở lại!”

Nhưng tôi vẫn luôn trở lại. Tôi nhớ nàng nhiều như cái cách mà nàng nhớ đến tôi. Nhưng nàng nói tôi vô tâm và ích kỷ. Vô tâm bởi vì luôn viết những điều giống như trút giận lên đầu nàng, những điều còn lâu mới giống những gì tôi thực sự thể hiện trước mặt nàng. Ích kỷ bởi vì luôn muốn giữ nàng ở bên cạnh mình, yêu thương mình và chỉ là sở hữu của riêng mình.

“Bởi vì em thương anh nhiều hơn cả anh thương em, nên em sẽ không giữ anh lại. Em không thể giữ người mà mình thương nhiều hơn họ thương mình. Em cần sự an toàn đến từ tình yêu thương vừa đủ. Và vì thế, em chọn một người không phải anh”

Đó là một buổi tối tháng ba trên đường Võ Thị Sáu (nàng vẫn hay cãi rằng đó chắc chắn không phải là Võ Thị Sáu, nhưng tôi không nghe), trời bỗng nhiên trong veo lạ thường. Tôi dừng xe tiễn nàng ra về. Bước chân dịu dàng và thong thả. Nàng bước đến mép bậc thang thì dừng lại bảo “anh về đi” vài lượt. Nàng là người duy nhất khiến tôi dừng lại và ngắm nhìn đến khi biến mất vào bóng tối. Nhưng trải qua thời gian rất lâu rồi, tôi chợt nhận ra rằng, dù có dừng lại ngắm nhìn hay không thì người ta vẫn sẽ biến mất. Bởi vì một ánh mắt không bao giờ là đủ để níu lại đôi bàn chân...

- Này nhỏ! Em có đang nhớ anh đấy không?
- Không nhé! Em nhớ anh làm gì?
...

Thế rồi một ngày nọ, tôi đến thăm nàng trong một ngày nắng đẹp, cố gắng đi thật chậm để nhớ lại từng lời nàng nói mỗi khi lên xe trở về nhà. Đây là thung lũng bình yên, kia là con đường ngập ngụa bụi đường...
- Khiếp! Anh đi chậm thế?
Phụ nữ thật kỳ lạ! Một mặt họ bảo bạn phải đi thật chậm, mặc khác họ lại chê trách khi bạn đến chậm. Tôi suýt nữa đã nói như vậy nếu như khói bụi và những chiếc xe lớn không lướt vội qua người.
Cái xứ gì thật lạ đời! Đất thì đỏ au, còn da con gái thì lại trắng.
- Từ đây về nhà con hẳn là xa nhỉ?
- Dạ! Cũng gần thôi! Đi bộ còn được nữa! Mà không biết chừng nào mới tới thôi.
- ...
- Giờ con về à? Từ đây về Phú Riềng cũng xa gớm lắm nhỉ?
- Mát trời nên thoải mái thôi ngoại ạ!
- Sao con không đeo khẩu trang?
- Ban nãy con đi đường, không cẩn thận làm rách mất rồi ạ! Cơ mà không sao. Đường cũng không bụi lắm.
- Ừ! Con về đi. Về sớm kẻo tối.

Bà nhìn tôi cười. Chỉ mới vài tháng không gặp, khuôn mặt bà chùng xuống, nom thiếu sức sống hẳn. Nhìn bà, nghĩ đến nội, rồi nghĩ đến ngoại, suýt khóc nên tôi gần như thôi thúc chắp vào trán bà niệm dăm ba câu cho an lòng. Nhưng rồi lại thôi. 

Những lời từ biệt sao mà khó nói đến thế?

...

Nàng từng tặng cho tôi một chiếc chuông gió, thứ mà theo hiểu biết hạn hẹp của tôi, nó có nghĩa là “em sẽ ở bên anh mãi mãi”. Một ngày nọ, chiếc chuông gió vỡ tan. Tôi nhặt từng mảnh vụn để dán lại như cũ. Nhưng vô ích. Có quá nhiều mảnh vụn li ti khiến cái chuông gió dán lại trông không thể kinh dị hơn. Nàng lắc đầu:

“Bỏ đi anh ạ! Sang năm em sẽ mua cái mới cho anh”.

Nhưng tôi lại là người không dễ dàng vất bỏ những thứ đã hỏng. Tuổi thơ nghèo khó dạy cho tôi thói quen sửa chữa hơn là thay mới. Sang năm, cái chuông gió hẳn sẽ vẫn rung mỗi khi gió về. Phòng tôi tràn ngập gió. Nhưng chừng ấy, chẳng biết nàng có còn ngồi đâu đó để mỉm cười trả lời tin nhắn của tôi, rằng: “Chuông gió lại rung leng keng nhỏ ạ! Giá em biết anh nhớ em đến mức nào...”, hay không nữa

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Birdman hay là câu chuyện về một huyền thoại đã chết

"Nếu những kỳ công trong quá khứ được tạo ra từ các vị thần trong sử thi, thì giờ đây, chúng được tạo dựng từ các quảng cáo bột giặt" - Roland Barthes

Tôi đã gần như có cơ hội xem "The Grand Budapest Hotel" và "Boyhood", nhưng cuối cùng lại xem Birdman trước cùng với Salon điện ảnh. Và có lẽ đây là điều may mắn! Tôi chưa đủ dũng cảm để xem tất cả những thứ đó, ít ra là xem một mình.

Cú máy, steadicam, và sự điên rồ về kỹ thuật

1 cú máy duy nhất, 2 tiếng đồng hồ, Steadicam và 4 giải Oscar. Birdman trong lời giới thiệu của Bá Vũ đã gần như khiến tôi thốt lên hai chữ "Điên rồ!". Bạn biết đấy! Lớn tiếng như vậy trong một buổi salon có thể khiến bạn, dù là bất kỳ ai, trở nên kỳ dị trong mắt phần đông những người còn lại. Điều may mắn là, tôi gần như không nhìn thấy bất kỳ điều kỳ lạ nào từ trong đối mắt của tất cả mọi người xung quanh mình, ngoại trừ ông Bá Vũ. Có lẽ, tôi là người duy nhất chưa từng đọc kỹ lưỡng bất kỳ lời giới thiệu nào trước khi đến đây.

Nhưng Alejandro González Iñárritu đúng là điên rồ thật! Một người am hiểu đôi chút về điện ảnh sẽ sớm nhận ra rằng, lịch sử điện ảnh chưa bao giờ ghi nhận bất kỳ một tác phẩm nào chỉ được quay trong đúng 1 cú máy. Chúng ta đã từng được chứng kiến bộ phim tài liệu (mà tôi quên khuấy mất tên) 1 cú máy do người Nga những năm đầu thế kỷ đã từng thực hiện, hay một loạt các cú long take (cú máy dài) trong phim Hugo vừa nổi đình nổi đám gần đây. Thế nhưng từ những cơ sở nhạt nhòa đó, quyết định mang toàn bộ tác phẩm 120 phút gói gọn vào trong một cú super-long take (cú máy siêu dài) vẫn là một ý tưởng điên rồ về mặt kỹ thuật: Thứ nhất, diễn viên có thể phải học thuộc hàng nghìn chi tiết nhỏ nhất, như động tác kéo ghế, ánh mắt nhìn, cách trở mình... đến mức vai diễn gần như là chính bản thân họ để tránh khiến cho toàn bộ ekip phải trở lại điểm xuất phát cách đó nhiều chục phút; thứ hai, gần như không có bất kỳ một ekip nào có thể sắp đặt mọi thứ hoàn hảo trong suốt 120 phút diễn xuất đến như vậy; thứ ba, giả sử ekip có sắp đặt hoàn hảo, thì chỉ một sai lầm nhỏ nhất của người quay phim khi điều khiển steadicam, hoặc đám đông quần chúng (ít nhất là cảnh tồng ngồng trên Broadway của Birdman - Riggan Thomson) cũng đủ khiến toàn bộ sự hoàn hảo đó sụp đổ.

Đó cũng là lý do mà Alejandro González Iñárritu đã gần như tuyệt vọng khi mang ý tưởng quái đản nhưng thiên tài này chào hàng khắp kinh đô điện ảnh Holywood. Tôi thực sự không hiểu, cuối cùng thì nhà sản xuất nào, và nguyên nhân bí ẩn nào đã khiến cho nhà sản xuất đó gật đầu với Alejandro González Iñárritu? 18 triệu dollar là một con số không hề lớn đối với các bộ phim Holywood, nhưng áp lực trong quá trình dàn dựng có thể khiến tất cả mọi người nản lòng, ngoại trừ những kẻ thực sự ngốc nghếch. Tôi thề rằng tất cả các thiên tài đều trông giống những kẻ ngốc

Dĩ nhiên là Alejandro González Iñárritu không ngốc! Ông ta và đồng nghiệp của mình biết cách biến sự điên rồ của mình thành sự thật. Thực ra, như những gì mà một người xem tinh mắt sẽ nhận ra, Birdman có khoảng 16 đoạn cắt nối khi nhân vật đối mặt với màn đêm hoặc chuẩn bị mở cửa bước sang một không gian khác. Nhưng 120 phút/16 cú máy thật vẫn là một con số quá khủng khiếp đối với cả đạo diễn, diễn viên, quay phim và toàn bộ ekip thực hiện. Kinh khủng! Mặc dù ít hoang đường hơn ban đầu.

Nhưng ông ta đã thành công phải không? 4 giải Oscar quả thực là quá nhiều cho một bộ phim chỉ tiêu tốn chưa bằng 1/3 so với American Sniper và còn khuya mới xứng đáng để so sánh với The Avengers. Dĩ nhiên là đối với phim nghệ thuật, nhà làm phim có một ưu thế nhất định về tiền catse cho diễn viên so với phim bom tấn, nhưng điều đó không thực sự quá quan trọng, nhất là khi giá thành của tác phẩm điện ảnh chủ yếu được nảy sinh từ kỹ xảo. 

Một điều may mắn khác của Birdman chính là, quay phim duy nhất của họ, không ai khác, chính là Emmanuel Lubezki, người vừa giành giải Oscar dành cho Quay phim xuất sắc nhất nhờ bộ "Gravity". Tôi đã gần như phát cáu vì ống kính xoay mòng mòng quanh các nhân vật đứng vòng tròn diễn xuất, hay lảo đảo cùng bước chân tấp tễnh của các diễn viên băng qua dãy hành lang dài và hẹp, nhưng lại không có cách nào rời mắt khỏi màn hình. Một kỹ thuật tuyệt vời với sự hỗ trợ của ống kính mắt cá, steadicam và kịch bản đạo diễn tỉ mỉ đến từng chi tiết. Tự hỏi, không hiểu sang năm, giải Oscar dành cho Quay phim xuất sắc nhất sẽ phải làm thế nào để vượt qua cái bóng quá lớn của Lubezki như cách mà ông đã làm đối với sản phẩm của chính mình năm 2013?

Cái bóng cuộc đời dưới đôi cánh Birdman

Về nội dung câu chuyện, Birdman khiến tôi cảm thấy bản thân thật non nớt nếu có dự định đưa ra một lời giới thiệu nào đó. Những gợi ý đến từ Báo Đất Việt không khiến đoạn viết này trở nên dễ dàng hơn một chút nào: Cái bóng của quá khứ? Sự tầm thường hóa bi kịch hay là bi kịch của cái tầm thường? Một góc nhìn cay đắng về cái gọi là Showbiz? Thật nhàm chán! Quá nhàm chán để miêu tả về Birdman!

- "Phải có một sự dũng cảm nhất định để có thể xem được Birdman và Boyhood"

Mặc dù có một chút thất vọng khi không thể đi cùng một người mà tôi cho rằng sẽ không ngáp vặt, hoặc xem một nửa liền bỏ về..., tôi vẫn hơi hài lòng khi kết thúc cuộc phiêu lưu nhỏ của mình trong trạng thái vô hình - thói quen ưa thích của tôi mỗi khi đến những chốn toàn những người ưa gật gù tỏ ra sâu sắc trước văn hóa và nghệ thuật. Sau rằm tháng giêng, bầu trời vẫn không một gợn mây, và Birdman thì vẫn sẵn sàng tung cánh bay trên bầu trời New York, phủ đôi cánh xuống mái đầu đã hói non một nửa của Riggan Thomson (nhân vật trong phim), cũng là cựu minh tinh Michael Keaton của vai Batman những năm cuối thế kỷ trước. 

Birdman của Iñárritu đã khiến Keaton run lên vì hạnh phúc như thể đây chính là kịch bản được viết ra từ cuộc đời của anh vậy: Cuộc đời của một Batman chết đuối trong ánh hào quang xưa cũ do chính mình dựng nên, một Keaton luôn phải dằn vặt vì quyết định kiêu căng sai lầm của chính mình trong quá khứ khi từ chối vai diễn chính trong Batman 3 chỉ vì... ghét thằng đạo diễn, một siêu anh hùng đã chết đang nuối tiếc cảnh tung hô của dân chúng New York khi nhìn thấy anh dang rộng đôi cánh bay trên bầu trời, và một cái mũi gãy. Thật tồi tệ khi bạn gần giống như người duy nhất trong khán phòng hiểu vì sao cái mũi của Riggan Thomson lại không hề bị bắn nát, trong khi tất cả mọi người đều dễ dàng bật cười trước cảnh Birdman, sau khi bay lượn như một loài chim thực sự, lại bị níu lại vì chưa trả tiền taxi. Nhưng bạn biết đấy, muốn hiểu được vì sao cái mũi vẫn còn đó, trước tiên bạn phải hiểu vì sao Riggan của chúng ta lại bắn cái mũi chứ không phải là thái dương như ban đầu ta vẫn tưởng.

Thú thực là tôi đã thoáng cảm thấy thất vọng khi tưởng rằng cảnh Riggan cầm súng thật (thay vì súng giả, vì là trên sân khấu) chĩa vào thái dương và bóp cò. Có ba lý do sau đây khiến cho mọi khán giả đều có thể gật đầu với tôi:

- Một là, không có bất kỳ người nào lại tự sát bằng cách để nòng súng cách thái dương xa đến mười mấy centimet như thế! Người ta sẽ làm thế này: Ghì sát họng súng vào huyệt để tránh hiện tượng giật súng, hơi cắn môi dưới một tí - như là bản năng, và mắt trái sẽ hơi khép hờ.

- Hai là, nên nhớ đây là một câu chuyện điện ảnh xoay quanh một vở kịch. Điều độc đáo thú vị nhất mà bộ phim có thể tạo ra chính là, khiến cho khán giả phải vắt não ra vì mối quan hệ nhì nhằng giữa phim - kịch - đời. Nhưng chỉ với một phát súng, mối nhì nhằng đó sẽ chấm dứt. Riggan muốn sống! Ông đã chiến đấu để bước ra khỏi chính mình, tức là Birdman, và chẳng có lý do gì để ông ta phải tự vẫn dưới ánh hào quang nằm ngoài đôi cánh của hắn cả! Một phát súng vào đầu chỉ có nghĩa rằng ông ta đã phân biệt rõ ràng cuộc sống của chính mình - quá khứ mà ông luôn ôm ấp, với Birdman và với cả ánh đèn sân khấu nữa. Mà phân biệt, thật vô nghĩa và ấu trĩ! Ông ta chưa từng làm được điều đó!

- Ba là, nổ súng để hoàn thành vở kịch đẫm máu cả nghĩa đen lần nghĩa bóng? Đừng nói là tôi đang xem kịch với tất cả các quy chuẩn ước lệ của nó nhé!

Nhưng ông đã không bắn vào đầu! Tạ ơn trời! Tạ ơn ông đạo diễn! Và tạ ơn Keaton vì đã không dừng lại ở chi tiết mà tất cả mọi người đều nghĩ rằng đó là một kết thúc tồi! Riggan bắn vào cái mũi của mình. Bắn nát bấy! Để rồi sau những cánh chim bay náo loạn, người ta lại được nhìn thấy ông ở bệnh viện, với khuôn mặt được băng kín không khác gì người chim.

"Người chim mà không có mũi thì sẽ thành thế nào nhỉ?"

Chỉ một câu đó thôi, điều tốt nhất mà khán giả nên hiểu chính là: Ông ta muốn vĩnh biệt Birdman theo cách riêng của mình. Ông kết thúc quá khứ bằng một phát bắn, kết thúc chuỗi những hành động quá quắt, ám ảnh và thiếu trách nhiệm diễn ra khắp từ quá khứ trải đến hết bộ phim cũng bằng phát bắn đó. Và, nhìn nụ cười của Sam (Emma Stone) kìa! Có phải bất chấp phát bắn điên rồ (vào mũi) đó, Riggan nhìn vào gương, thở dài nhận ra cái mũi của mình vẫn còn, cũng giống như Birdman (vừa xả nước bồn cầu ngay bên cạnh ông) không thể bị bắn chết. Có trời mới biết ông/Birdman có thật là có siêu năng lực hay không! Có trời mới biết cuối cùng ông có tung bay như một loài chim không bị ảnh hưởng bởi trọng lực thật không! Hay là lại chơi một trò chơi ngốc nghếch quái đản nào đó. Và có trời mới biết cái mũi của ông có thực sự lành lặn không mặc dù trong cuộc đối thoại nội tâm (Vâng! Đối thoại!) của chính ông và Birdman thì cái mũi vẫn còn đó.

Đương nhiên, Birdman không chỉ có như thế! Sự hài hước đến từ một người chắc chắn không thể dưới ngũ tuần về Blog, Twitter, Facebook... cũng như những thứ công nghệ internet đại loại như thế trong mắt của một kẻ say sưa với ánh hào quang cũ; sự thật về ánh đèn, âm nhạc, diễn xuất, và tất cả mọi thứ điên rồ của nghệ thuật sân khấu; cuộc sống tù túng đến ngạt thở của những kẻ hào nhoáng; tình yêu gia đình và hơi thở cuộc sống; những kẻ phê bình cao quý và mạt hạng của nghệ thuật.... Birdman còn là hàng tá những thứ đó! Hàng tá những thứ khiến bộ phim trở nên khó thở đối với mọi đối tượng khán giả. Có lẽ, những nơi trình chiếu Birdman cần đặt ra một yêu cầu quái đản khác với tuổi tác để giới hạn khán giả: Chỉ cho phép những người có lá phổi to lớn và khỏe mạnh vào xem.

Ây chà! Nhưng với điều kiện này thì người có chứng viêm phổi kinh niên như tôi hẳn là gặp rắc rối rồi!

Dù sao thì, ông đang diễn một vở kịch tuyệt vời trước ống kính điện ảnh, vở kịch về cuộc đời thật của chính mình. Ây chà! Tôi cũng đã bắt đầu vướng vào sự nhì nhằng mà tác giả bung ra rồi đấy!

Sài Gòn ngày 8/3/2015
Trúc Phong

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Câu chuyện về một (vài) người hùng

Có lẽ nhiều bạn đọc của tôi sẽ cảm thấy hơi tiếc nuối vì nội dung bài viết này sẽ không tương xứng với cái tiêu đề, điều gần như đã khiến họ khá thích thú khi bắt đầu mở bài viết này ra.

Thực ra thì, ý định ban đầu của tôi cũng tương tự như những gì bạn đọc tưởng tượng. Đáng tiếc là quỹ thời gian hạn hẹp khiến tôi không đủ sức viết ra một bài viết "thâm nho" kiểu như vậy. Trong khi người hối thúc tôi viết ra điều gì đó lại đang phải chờ đợi từng ngày.

Vậy nên, tôi hứa rằng, trong một ngày đẹp trời nào đấy, tôi nhất định sẽ viết một cách thật nghiêm chỉnh về cái được gọi là người hùng đấy. Còn ở đây, ta sẽ nói chuyện về người anh hùng rất nổi tiếng của chúng ta gần đây. Tôi vốn định sẽ không viết bài này, vì phần nhiều ý tưởng đều đã được một người mà tôi kính trọng viết hết, với một thái độ mực thước hơn tôi nhiều. Nhưng dù sao thì cũng vẫn phải viết, vì một vài bạn đọc muốn chính tôi viết ra, như một cơ sở nào đấy cho bài viết sau này về anh hùng.


1. Từ một anh hùng

Giáo sư, Anh hùng lao đông Vũ Khiêu, tên thật là Đặng Vũ Khiêu (19/09/1916), là một học giả nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học Việt Nam, nguyên Phó Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội, Tổ trưởng đầu tiên của Tổ Triết học thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước, nguyên Phó Viện trưởng Viện Triết học. Ông từng được nhận Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huân chương lao động hạng nhất, Huân chương độc lập hạng hai, Huy chương “Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ”, năm 2002, Giải thưởng Hồ Chí Minh, năm 1996, Anh hùng lao động, năm 2000.

Tôi nhớ cách đây khoảng non một năm, khi còn đang công tác tại một công ty truyền thông có mối quan hệ tương đối mật thiết với các quan chức nhà nước (ấy là công ty có liên hệ thôi, chứ bản thân tôi là một nhân viên quèn thì biết gì), có lần sếp tôi mang cuốn sách có tiêu đề Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng ra cho tôi đọc. Ông nói:

- Đấy! Mày đọc thử xem! Hiếm có cuốn nào được Giáo sư, Anh hùng lao động Vũ Khiêu khen nức nở thế này đâu nhé! Mà GS Khiêu thì mày thừa biết rồi đấy! Giáo sư đầu ngành, ông trùm của KHXH Việt Nam...

Tôi cười cười nhưng không nói gì cả.

Tôi khá là lười đọc sách, nên những cuốn nào cảm thấy không đủ giá trị với riêng tôi thì tôi ít khi động tới. Sách của cụ cũng vậy. Việt Triết học liệt kê giúp cụ khoảng chừng 12 cuốn sách và 30 vài viết học thuật. Nhưng tôi đoán rằng tôi sẽ hơi không thích những cuốn sách đó một tẹo. Thế nên thôi xin nhường ý kiến chuyên môn về những cuốn sách ấy cho người khác.

Về những hiểu biết của tôi về cụ, có lẽ vì thiên kiến hẹp hòi của một người cầm bút trẻ và chưa có thành tựu gì đang ra sức ghen tức với thành công của cụ, tôi chỉ biết đến cụ qua bản dịch Bình Ngô đại cáo in trong Nguyễn Trãi toàn tập năm 1980. Thú thực, đó là một câu chuyện khá hài hước gần giống như rất nhiều câu chuyện răn đời của các cụ ta ngày xưa dành cho đám trẻ con đi học chữ Hán là chúng tôi: Rằng bản dịch của cụ "non và nhạt" như trẻ con tập tọng làm câu đối. Rằng khi đã đối mặt với một bản dịch tốt, điều quan trọng nhất không phải là dìm bản dịch đó xuống dưới để nhân cơ hội ngoi đâu lên để cố khoe khoang sở học, mà là học hỏi những cái hay của họ... Nói tóm lại, nếu có ai đó rỗi rãi vào thư viện quốc gia, xin chụp nhờ bản dịch Bình Ngô đại cáo của cụ giúp tôi để có căn cứ mà đưa vào bài viết, không thì vì lý do lâu rồi không nhớ mà thành viết vớ va vớ vẩn, hóa ra lại thành trách nhầm cụ.

Mãi đến tết năm nay, khi cô hoa hậu đến mừng đại thọ cụ, cụ hôn cô một cái, rồi viết tặng cô một cặp câu đối. Thế là "cư dân mạng" dậy sóng với cụ, chĩa giáo vào tấn công cụ.
Nhưng tôi tin rằng, bản thân cụ người hùng sẽ không mất quá nhiều thời gian để ổn định lại sau hàng trăm mũi dùi dư luận chỉa thẳng vào mình. Cụ đã quá quen với việc đó: Đầu tiên là vụ Bình Ngô đại cáo; tiếp theo là vụ tặng một loạt các cặp câu đối... na ná nhau cho nhiều ngôi đình khác nhau với hi vọng người đi đình này sẽ không ghé qua đình kia để phát hiện vụ... in câu đối kiểu công nghiệp của cụ; sau nữa là vụ "đọc nhầm" ấn vua Trần từ "Thượng Nguyên Chu thị" thành "Quốc vương thiên nhân" (dù cho có trời mới biết 2 cụm này giống nhau ở điểm nào), rồi gần nhất là vụ khích lệ ông Đỗ Minh Xuân phá hoại truyện Kiều... Nói chung là cụ hẳn là có tài ở nhiều lĩnh vực, thứ đã nằm gọn trong 12 cuốn sách và 30 bài báo, sau đó đưa cụ lên hàng ngũ Anh hùng lao động cũng như hàng tá danh hiệu khác, nhưng chắc tài năng đó đơn giản là không nằm trong văn chương (mà chắc cũng không có cả trong Triết học nữa).

Xét ra mới thấy, văn chương là một điều rất nghiệt. Có khi nàng ta ưu ái cho cả những đứa trẻ đọc viết còn chưa rành như Trần Đăng Khoa thuở nhỏ, nhưng đôi khi lại không thèm đoái hoài gì đến một cụ ông gần trăm tuổi cả đời theo đuổi nàng. Tôi đọc cặp câu đối cụ tặng cho cô hoa hậu:

Trí như bạch tuyết tâm như ngọc,
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung.

Một kẻ ngốc cũng hiểu câu dưới cao sang đến mức nào. Mang thiên nhiên về so sánh với con người: Mây trời tưởng như áo váy nàng, hoa đẹp tưởng như dung nhan nàng. Ý là nàng còn đẹp hơn cả thiên nhiên. Nghe đâu Đường Minh Hoàng đã phát ghen với Lý Bạch chỉ vì câu thơ đẹp này. Nhưng đẹp thì đẹp thật, đáng ra cụ chỉ nên dùng điển, chứ không nên trích nguyên văn.

Câu trên lại hơi nhạt. Văn chương Tàu vốn có câu "Băng tuyết thông minh", dùng để chỉ những cô thiếu nữ tuổi chừng 11-12 tuổi, thông minh lanh lợi, khí chất bất phàm, lại có vẻ đẹp thánh khiết không nhiễm bụi trần. Nhưng chuyển dịch thành "trí như bạch tuyết" thì nhạt thật! Nghe cứ như "Da trắng vỗ bì bạch" ấy! Vả lại, xét ra thì cũng không hợp với cô hoa hậu lắm.

Đó là chưa kể, lấy tục (câu 1) đối thanh (câu 2) e không phải là điều người quân tử nên làm.

Nhưng lẽ ra, bất chấp cặp câu đối "chưa hay", cụ vẫn sẽ được người ta để yên nếu cụ không hôn cô hoa hậu mà cụ vừa cho chữ. Khổng tử nói: "70 tuổi thì thích gì làm đó vẫn không lo trái đạo". Nhưng cụ vừa hôn một cái, cả triệu thanh niên GATO với cụ liền nhảy vào mắng cụ trái đạo. Ấy là thế nào?

Bởi vì người ta là hoa hậu thôi!

Hoa hậu thời nay, thực ra là một loài động vật xinh đẹp được toàn xã hội yêu thích. Vì cần đến một cơ chế kiểm tra, so sánh đặc biệt giữa các cá thể với nhau để chọn ra cá thể xinh đẹp nhất làm đại diện cho loài, người ta đã lột phăng gần hết các mảnh áo của loài động vật này, sau đó yêu cầu nó di chuyển từ đầu sân bên này sang đầu sân bên kia trong tình trạng tồng ngồng có ít quần áo trước hàng triệu con mắt đang soi từng milimet trên cơ thể nó (Điều khốn nạn nhân văn nhất chính là, phần quần áo còn sót lại trên cơ thể loài động vật này lại vừa đủ để che 2 chỗ khuyết và 2 chỗ lồi, vị trí mà triệu con mắt kia soi kỹ nhất). Cuối cùng, hoa hậu được ra đời.

Hoa hậu của chúng ta lần này là một cô gái mắt xếch. Ông bà ta dạy, mắt xếch đa dâm, cho thì ăn chớ đừng cố giữ. Nhưng không được hôn thì kể cũng uất ức thật! Đã thế cụ ông kia lại còn ôm hôn thắm thiết nữa! Thế là các thanh niên GATO bắt đầu sôi máu. Nhưng họ sẽ vướng phải vài chục luận điểm đánh giá về phẩm hạnh của chính họ nếu chỉ trích trực tiếp vào cảnh hôn má hoa hậu. Thế nên họ đi đường vòng bằng cách chê bai cặp đối của cụ. Ấy chà! Lần này thì rầy rà cho anh hùng - vĩ nhân - nhà văn hóa của chúng ta rồi!

Còn nhớ vụ làm câu đối tặng đình làng, chuyện vỡ lở ra cũng chỉ vài trăm người biết.

Vụ đọc Ấn đền Trần, có chăng chỉ là vài nghìn người biết chuyện không biết đọc chữ Hán.

Và rồi vụ truyện Kiều, cùng lắm lên đến vài vạn người cười vào mặt cụ.

Giờ thì tai hại rồi! Chỉ vì một cái hôn.

2. Đến một triệu anh hùng khác

Trong số một triệu đó có cả tôi nữa. Nói như thế để người đọc khỏi mất công vặn vẹo.

Số là sau khi vụ cụ người hùng hôn má hoa hậu (chà! Có nên bỏ chữ cụ không nhỉ?), người ta bắt đầu ồn ào trở lại vụ cụ tán dương ông Đỗ Minh Xuân trong công cuộc hủy diệt truyện Kiều (Đây được xem là scandal lớn nhất đời cụ, nhưng không phải là scandal khiến nhiều người chú ý nhất. Kỳ lạ thật!)

Nhưng một nửa trong số đó, những người anh hùng trí thức khác, những chiến binh bảo vệ sự toàn vẹn của truyện Kiều lại thể hiện một bộ mặt dường như không... đáng mặt anh hào cho lắm. Họ tin rằng, cần phải tấn công ông kỹ sư... nhiệt tình nhưng kém hiểu biết này thật mạnh mẽ để ông tỉnh ngộ ra rằng, việc tự so sánh mình với đại thi hào Nguyễn Du là một điều gần như... tâm thần bất ổn. Nhưng họ quên mất rằng, cuốn sách đã ra được đến non một năm ấy đã gần như chết ngắc. Và việc đáng ra nên làm là tìm cách để cho nó biến mất khỏi thế giới theo một cách phù hợp, chứ không phải là kéo nó từ dưới mồ lên để chửi mắng tác giả (điều mà đáng ra họ phải làm từ 1 năm trước). Tôi cho rằng, người quân tử chỉ rõ điều sai nhưng không mạt sát, kẻ tiểu nhân ưa mạt sát, nhưng rất ít khi hiểu rõ đúng sai.

Thành ra có ghét thì cũng nên cân nhắc một tí, đừng cố tát nước theo mưa kẻo người quân tử đánh giá đạo đức. Ầy! Xét ra thì chuyện ấy cũng lắm phiền não!

Đó là chưa kể, như một hiệu ứng truyền thông tất yếu, có khi cuốn Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng lại bỗng dưng thành... sách hot thì chết dở.

--------------------

P/s: Câu chuyện về những người hùng

Người ta sống trên đời đều có cùng một tật xấu thế này: Cứ hễ ai đó tung hô mình là lập tức tưởng mình tài hoa. Ban đầu thì ta có một chút tài thôi. Thế nhưng một đồn mười, mười đồn trăm, rồi thì ai đó muốn nhân cơ hội mượn danh tiếng ta để làm điều gì đó có lợi cho họ chẳng hạn, bắt đầu trao tặng cho ta khoảng 9523536 giải thưởng "cao quý". Ta ban đầu hơi sợ một chút. Những gì được tung hô không thực sự tương ứng với những gì ta có. Nên khi người ta khen, ta cùng lắm chỉ dám ậm ừ cho qua. Từ chối cũng dở, mà đồng ý cũng dở. Phép giao tiếp mà!

Sự việc tính đến đây chưa thực sự tồi tệ. Vì hơi lo nên ta cân nhắc hành động khá kỹ lưỡng, chỗ nào biết thì nói, không biết thì giả lả cho qua. Kết quả đương nhiên đều ổn cả!

Nhưng rồi một ngày ta lại bị chính những lời tung hô đánh lừa mình. Nghe thì có vẻ vớ vẩn, nhưng thật sự thì lại rất thường xảy ra. Ta tưởng mình có tài thật. Vì nếu không có tài thì làm sao người ta lại khen ta nhiều đến vậy? Vì sao người ta không tung hô khoảng vài triệu người còn lại trên thế giới mà lại khen ngợi ta nếu không phải vì vài triệu người đó chỉ là phường kém cỏi? Thế nghĩa là ta, tuy dường như có hơi... non một tí, nhưng hẳn là phải đủ giỏi hơn tất cả rồi.

Đến đây thì nghiêm trọng rồi! Ta ít thận trọng ngôn hành hơn trước. Ta bắt đầu "cho chữ", nói cách khác là phát ngôn trên truyền thông, hành xử, viết lách các kiểu bạo dạn hơn trước. Đám tiểu đồng xung quanh ta vẫn khen ngợi nức nở nên ta tin rằng nó thực sự xuất sắc. Bạn biết đấy! Có khoảng non bốn phần năm dân số là những kẻ adua, họ khen bất kỳ thứ gì được đám đông ca ngợi mà không nhớ rằng chính họ từng là đám đông. Ta lại càng tự tin. Ta chê bai những kẻ kiệt xuất hơn ta bằng tài năng được tung hô của mình. Ta tin rằng, bản thân ta mới là người xuất sắc hơn những vĩ nhân được lịch sử công nhận khác, những kẻ mà ta không bao giờ còn nhìn thấy họ giỏi nữa.

Thế rồi trong khi đó, ta, với tư cách là thiên tài, anh hùng, vĩ nhân, sẽ nhanh chóng phải đối mặt với một phần năm dân số còn lại ít adua hơn trong một thời gian gần vì những áng văn - phát ngôn - hành xử được đưa vào sách giáo khoa của mình. Bản thân ta không giỏi, vì thế một phần năm này sẽ nhanh chóng nhận ra nhiều thứ mà chính ta cũng không hề nhận ra...

Ầy! Đoạn sau này là nói nhảm thôi!